• 22421 bản nhạc
  • 1,063,321 thành viên
  • 6 yêu cầu

Thông tin về DBSK / 동방신기 và các bài hát hay nhất của DBSK / 동방신기

TVXQ (TVfXQ) viết tắt của Tong Vfang Xien Qi (東方神起; Hán-Việt: Đông phương thần khởi), là một nhóm nhạc Hàn Quốc, được thành lập ngày 24 tháng 12 năm 2003 bởi SM Entertainment. Tại Hàn Quốc nhóm còn được biết đến với tên Dong Bang Shin Gi (hay Dong Bang Shin Ki), viết tắt DBSG (hoặc DBSK). (동방신기). Họ đã được giới thiệu tại Nhật Bản dưới tên Tohoshinki(東方神起) vào năm 2005, với công ty chủ quản là Rhythm Zone (công ty con của Avex). Tên phiên âm Hán-Việt của họ là Đông phương thần khởi, có nghĩa là "Những vị thần đến từ phương Đông". Tên fanclub của nhóm là Cassiopeia (tên chòm sao gồm 5 ngôi sao tượng trưng cho 5 thành viên), màu bóng của nhóm là màu đỏ.

Từ khi ra đời cho đến nay, TVXQ đã trở thành một trong những ban nhạc nổi tiếng nhất tại các quốc gia Châu Á, và là một trong những ban nhạc điển hình của dòng K-pop hiện nay. TVXQ đã phát hành các đĩa đơn và album tại nhiều quốc gia và lãnh thổ trên toàn châu Á. Năm 2008, với đĩa đơn tiếng Nhật thứ 16, "Purple Line", lần đầu tiên chiếm ngôi vị quán quân trên bảng xếp hạng Oricon, TVXQ trở thành nghệ sĩ châu Á thứ 5 (không phải người Nhật) và là nhóm nhạc nước ngoài đầu tiên có đĩa đơn No.1 trên bảng xếp hạng uy tín này. Và đĩa đơn thứ 23, "Dōshite Kimi o Suki ni Natte Shimattandarōu?" (Why did I fall in love with you?) giúp TVXQ lập kỉ lục mới, trở thành nghệ sĩ nước ngoài đầu tiên có 3 đĩa đơn đứng đầu bảng xếp hạng. Năm 2012, sau đĩa đơn thứ 37, "ANDROID", TVXQ trở thành nghệ sĩ nước ngoài đầu tiên có 11 đĩa đơn đạt ngôi vị quán quân trên Oricon và cũng là nghệ sĩ nước ngoài đầu tiên tiêu thụ được hơn 200 nghìn bản trong lịch sử J-pop, cũng phá kỷ lục của Elton John. Đầu năm 2010, nhóm tung ra album BEST SELECTION 2010 ở Nhật và đạt được kỉ lục mới với hơn 510.000 bản tiêu thụ được trong một tháng và giành được đồng thời 2 giải bạch kim.

Sau các vấn đề về pháp lý, 3 thành viên của TVXQ đã ra mắt tại Nhật Bản với cái tên JYJ, và sau đó ra mắt toàn cầu với album tiếng Anh đầu tiên: The Beginning.

Quá trình hoạt động

2003–2005: Ra mắt và phát triển

Trước khi ra mắt, nhóm đã được cung cấp ba cái tên: O Jang Yukbu (오장육부 Lục phủ ngũ tạng), Jeonseoleul Meokgo Saneun Gorae (전설을 먹고 사는 고래 Con cá voi ăn những huyền thoại), Dream TeamSM5 (Sau này bị đổi lại do trùng tên với một hãng xe hơi mới), và Dong Bang Bul Pae (동방불패 Đông Phương Bất Bại). Họ đã quyết định là Dong Bang Bul Pae, nhưng sau đó lại được đổi thành Dong Bang Shin Ki (Đông Phương Thần Khởi).

TVXQ lần đầu ra mắt khán giả Hàn Quốc vào ngày 26 tháng 12 năm 2003 trong một buổi biểu diễn có mặt BoA và Britney Spears, với ca khúc "Hug" và "O holy night" (hát theo phong cách acapella cùng với BoA). Đĩa đơn đầu tiên "Hug", phát hành vào tháng 1 năm 2004, đứng thứ 4 trên bảng xếp hạng hàng tháng và bán được 169,532 bản (năm 2004) và đứng thứ 14 trong bảng xếp hạng đĩa bán chạy nhất năm 2004. Đĩa đơn thứ 2 mang tên "The Way U are" phát hành vào tháng 7 năm 2004, đạt vị trí thứ 2 trong bảng xếp hạng và đứng thứ 9 trong những đĩa đơn bán chạy nhất năm với 214.069 bản (năm 2004). Sau đó TVXQ tiếp tục cho ra mắt album đầu tiên của mình "Tri-angle" vào tháng tháng 10 năm 2004. Album đã chiếm vị trí thứ nhất trong bảng xếp hạng, tiêu thụ được 242580 bản (chỉ trong năm 2004) và đứng thứ 8 trong những đĩa nhạc bán chạy nhất năm 2004.

Ngày 27 tháng 4 năm 2005, TVXQ ra mắt tại Nhật Bản với sự quản lý của Rhythm Zone (công ty con của Avex). Đĩa đơn tiếng Nhật đầu tiên được phát hành là "Stay with Me Tonight". Họ lại tiếp tục phát hành ca khúc tiếng Nhật thứ hai, "Somebody to Love" trước khi trở về Hàn Quốc cho ra mắt album tiếng Hàn thứ hai, "Rising Sun". "Rising Sun" sau khi ra đời đã chiếm vị trí số 1 trên bảng xếp hạng với 222,472 bản bán được chỉ trong năm 2005 và đứng ở vị trí thứ 4 trong bảng xếp hạng cuối năm. Kết thúc năm 2005, TVXQ cho ra mắt đĩa đơn thứ ba " My destiny" tại Nhật. Ca khúc "Show Me Your Love" thu âm cùng Super Junior tại Hàn Quốc đã tiêu thụ được 49.945 bản và đứng thứ 35 trong những đĩa đơn bán chạy nhất năm 2005. Sau đó, TVXQ nhận giải thưởng "Video âm nhạc hay nhất" cho "Rising Sun" và giải "Khán giả bình chọn" tại Liên hoan Mnet KM Music Video năm 2005.

2006-2007: Tấn công thị trường châu Á

TVXQ đã bắt đầu năm 2006 với chuyến lưu diễn quốc tế đầu tiên trên toàn châu Á (The 1st Asia Tour) - "Rising Sun". Ngoài Hàn Quốc, họ còn diễn tại Trung QuốcThái Lan, và Malaysia và trở thành nghệ sĩ Hàn Quốc đầu tiên tổ chức biểu diễn hoà nhạc tại Malaysia. Trong tháng ba, nhóm phát hành đĩa đơn tiếng Nhật thứ tư, "Asuwa kuru kara" (明日は来るから: Because Tomorrow Will Come) và album tiếng Nhật đầu tiên "Heart, Mind and Soul". Album đứng thứ 25 trên bảng xếp hạng tuần Oricon với 9.554 bản được tiêu thụ. Đĩa đơn tiếng Nhật thứ 5, "Rising Sun/Heart, Mind and Soul" được phát hành một tháng sau đó và chiếm vị trí thứ 22 trên bảng xếp hạng Oricon. Để quảng bá cho album, họ tổ chức lưu diễn lần đầu tiên tại Nhật, 1st Live Tour 2006: Heart, Mind and Soul từ tháng 5 đến tháng 6. Sau đó, DBSK phát hành thêm hai đĩa đơn tiếng Nhật "Begin" và "Sky". Cả hai ca khúc đều đứng ở vị trí thứ 6 và là những đĩa đơn đầu tiên của nhóm vào được Top 10 bảng xếp hạng Oricon. Trong mùa hè, TVXQ biểu diễn tại concert thường niên của Avex, A-Nation.

TVXQ trở lại Hàn Quốc với album thứ 3 "O"-Jung.Ban.Hap. ("O"-正. 反. 合) vào tháng 9 năm 2006. Cũng giống như các album tiếng Hàn trước đó, "O"-Jung.Ban.Hap. chiếm vị trí thứ nhất tại các bảng xếp hạng với tổng số 349,317 bản được tiêu thụ trong năm 2006 và đã trở thành đĩa nhạc bán chạy nhất trong năm. Hai tháng sau, nhóm phát hành đĩa đơn thứ 8, "Miss you/" O "- Sei-Han-Go" chiếm vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng ngày của Oricon. Đây là đĩa đơn đầu tiên của nhóm vào được Top 5. Tại Liên hoan MKMF Music năm 2006, TVXQ đoạt được bốn giải thưởng là "Nghệ sĩ xuất sắc nhất của năm", "Nhóm nhạc xuất sắc nhất", "Mnet. com" và "Giải thưởng Mnet Plus Mobile do khán giả bình chọn". Tại lễ trao giải Liên hoan âm nhạc Seoul thứ 16, TVXQ đã giành được ba giải thưởng, bao gồm cả giải "Daesang". Nhóm cũng đạt được giải "Daesang" tại giải Đĩa vàng 2006 cùng một giải "Bonsang". Tại lễ trao giải SBS Gayo 2006, TVXQ lại đoạt thêm giải "Daesang" và "Bonsang".

TVXQ đã bắt đầu năm 2007 với một đĩa đơn tiếng Nhật mới, "Step By Step", phát hành sau chuyến lưu diễn toàn Châu Á thứ hai (The 2nd Asia Tour "O"). Nhóm đã diễn tại Seoul, Đài BắcBangkokKuala LumpurThượng Hải và Bắc Kinh. Trong tháng ba, nhóm phát hành đĩa đơn tiếng Nhật thứ mười "Choosey Lover" và album tiếng Nhật thứ hai "Five in the Black". Cả hai đều nằm trong Top 10 của Oricon với vị trí thứ 9 và 10. Trong tháng 5, nhóm đã tới tham dự giải thưởng âm nhạc MTV Video Music Nhật Bản và đoạt giải "Best Buzz Asia in Korea" cho album "O"-Jung.Ban. Hap. Từ tháng 6 đến tháng 12 năm 2007, nhóm phát hành một chuỗi năm đĩa đơn: "Lovin You", "Summer: Summer Dream/Song for You/Love in the Ice", "Shine/Ride On", "Forever Love" và "Together". "Summer: Summer Dream/Song for You/Love in the Ice" đứng ở vị trí thứ hai trên Oricon và cũng là thành tích cao nhất của một nhóm nhạc nước ngoài đạt được vào thời điểm đó. TVXQ cũng đã hợp tác với ca sĩ Nhật Bản Koda Kumi cho đĩa đơn thứ 38 của cô, "Last Angel", được sử dụng làm nhạc nền cho bộ phim hành động Resident Evil: Extinction.

2008 đến 2009: Thành công về thương mại

TVXQ phát hành đĩa đơn tiếng Nhật thứ 16 "Purple Line" vào ngày 16/01/2008 và trở thành nhóm nhạc nước ngoài đầu tiên có đĩa đơn xếp thứ nhất trên bảng xếp hạng tuần Oricon. Sau đó, họ phát hành album tiếng Nhật thứ ba "T". "T" đã chiếm vị trí thứ 4 trên Oricon tuần. TVXQ công bố dự án "Trick" với kế hoạch là 5 đĩa đơn sẽ được phát hành trong vòng 6 tuần, từ tháng 2 đến tháng 3 phát hành các đĩa đơn hát riêng của từng thành viên.

Sau đó, họ đã tiếp tục cho ra mắt đĩa đơn thứ 23, "Beautiful You/Sennen Koi Uta" trong tháng 4 và trở thành nghệ sĩ nước ngoài đầu tiên có 2 đĩa đơn No.1 trên Oricon tuần sau 24 năm. Họ trở lại Hàn Quốc để tham gia Dream Concert 2008 tại Sân vận động Olympic, Seoul vào tháng 6. Ngày 12 tháng 6, họ khép lại chuyến lưu diễn châu Á lần thứ hai - 2nd Asia tour concert "O"- với buổi biểu diễn tại Bắc Kinh, mà đã bắt đầu vào ngày 23 tháng 2 năm 2007 tại Seoul. TVXQ trở lại Nhật Bản và phát hành đĩa đơn thứ 24 "Doushite Kimi wo Suki ni Natte Shimattandarou?" và lại trở thành nghệ sĩ nước ngoài duy nhất có 3 đĩa đơn No.1 trên bảng xếp hạng Oricon tuần. Sau đó, họ đã biểu diễn tại lễ kỉ niệm 20 năm của Avex và A-Nation 2008. Trong tháng 8, TVXQ trở lại Hàn Quốc một lần nữa để tham gia vào SMTown Live 08 cùng với các nghệ sĩ trực thuộc SM khác như: BoA, Cheon Sang Ji HeeZhang LiyinGirls GenerationSHINee và Super Junior.

Album thứ 4 của nhóm tại Hàn Quốc, "Mirotic" đã bị phát hành muộn vào 24/09/2008 (theo đúng lịch là 22/09 nhưng do có số lượng lớn các đơn đặt hàng nên đã bị xuống 2 ngày). Giống như những album tiếng Hàn trước, Mirotic khởi đầu ở vị trí số 1 tại các bảng xếp hạng với 307.974 bản bán được (chỉ sau 3 ngày ra mắt, Mirotic đã trở thành album bán chạy nhất năm 2008 tại Hàn Quốc). Trong đầu tháng 1 năm 2009, album đã bán được thêm 194.863 bản, và tổng số album đã tiêu thụ được 502.837 bản, trở thành album đầu tiên trong 6 năm qua tại Hàn Quốc vượt ngưỡng 500.000 bản. Trong tháng 10, TVXQ phát hành đĩa đơn "Jumon: Mirotic", một phiên bản của Mirotic tại Nhật và không ngoài dự đoán, ca khúc này đã xếp thứ nhất trên bảng xếp hạng tuần Oricon. TVXQ tham dự Liên hoan Âm nhạc Kouhaku Uta Gassen được tổ chức thường niên vào dịp cuối năm. Đây là buổi biểu diễn âm nhạc có tỉ lệ người xem cao kỉ lục tại Nhật Bản, và TVXQ là nhóm nhạc Hàn Quốc đầu tiên tham gia sự kiện đặc biệt này.

Mở màn năm 2009 với đĩa đơn tiếng Nhật thứ 25, "Bolero / Kiss baby Sky / Wasurenaide" phát hành vào tháng 1 năm 2009, chiếm vị trí số 1 bảng xếp hạng tuần Oricon. Đĩa đơn giúp cho họ trở thành nghệ sĩ nước ngoài đầu tiên và duy nhất có đến 5 ca khúc No.1 trên Oricon. Trong tháng 3, TVXQ phát hành đĩa đơn thứ 26 "Survivor", theo sau đó album tiếng Nhật thứ 4, "The Secret Code" chiếm vị trí thứ 2 còn "Survivor" chiếm vị trí 3 trên Oricon và kết thúc chuỗi đĩa đơn No.1 liên tiếp của họ.

Ngày 22 tháng 4 năm 2009, TVXQ phát hành đĩa đơn thứ 27 "Share the World/We Are!". Đĩa đơn này đứng thứ nhất trên Oricon tuần, đồng thời "We are" trở thành nhạc phim chính thức cho bộ phim hoạt hình One Piece của Nhật Bản. Đĩa đơn thứ 28, "Stand by U", phát hành ngày 1 tháng 7, 2009 và xếp thứ #2 trên bảng xếp hạng.

TVXQ đã tiếp tục với chuyến lưu diễn Châu Á lần thứ 3 3rd Asia tour concert Mirotic bắt đầu vào ngày 20 tháng 2 năm 2009 tại sân vận động trong nhà Seoul Olympic và kết thúc ngày 22 tháng 2 năm 2009, TVXQ tổ chức diễn tại nhiều nơi khác như Nam KinhGwangjuThái Lan... và đã phục vụ hơn 390000 lượt Fan... Sau đó nhóm đã trở lại Nhật Bản để bắt đầu chuyến diễn vòng quanh nước Nhật bắt đầu từ tháng 4.

Tháng 7 năm 2009, TVXQ trở thành nhóm nhạc đầu tiên của Hàn Quốc tổ chức liveshow tại Tokyo Dome của Nhật Bản. Đây là tour diễn qua 11 thành phố lớn của Nhật Bản với hơn 20 đêm diễn phục vụ hơn 500000 lượt Fan (trong đó riêng 2 đêm ở Tokio Dome đã đón khoảng 110 000 người hâm mộ).

Ngày 22 tháng 8, vượt qua tất cả các tên tuổi khác như Super Junior, Bigbang... TVXQ đã giành được giải thưởng "Nhóm nhạc nổi tiếng nhất Châu Á" với 48% lượng bình chọn tại Channel V Music Video Awards 2009 của Thái Lan. Hơn thế nữa, tại Nhật Bản họ đã giành được một đĩa bạch kim cho album "The Secret Code", và hai đĩa vàng cho chuyến lưu diễn "T" và "Heart, Mind and Soul".

Ngày 30 tháng 9, hai thành viên Hero Jaejoong và Micky Yoochun đã phát hành đĩa đơn thứ 29, "Colors - Melody and Hamony/Shelter", bán được hơn 104.000 bản ngay trong ngày đầu phát hành và một lần nữa giành được vị trí No.1 bảng xếp hạng Oricon tuần với hơn 149.000 bản được tiêu thụ.

Bên cạnh đó, vào ngày 8 tháng 10 năm 2009 trên bảng xếp hạng Oricon tuần dành cho DVD, 4th Secret Code tour - Final in Tokyo Dome đã chiếm ngôi đầu bảng với hơn 171.000 bản được tiêu thụ. Đây là thành tích mà trong vòng hơn 20 năm qua chưa một nghệ sỹ nước ngoài nào làm được tại Nhật Bản.

Năm 2009 là năm thành công lớn về doanh thu của nhóm. Mặc dù vướng vào vụ kiện từ cuối tháng 7, không có nhiều hoạt động vào cuối năm 2009 nhưng tính riêng doang thu ở Nhật nhóm đã kiếm được khoảng 76 triệu USD (đứng thứ 3 về doanh thu chỉ xếp sau hai ban nhạc hàng đầu của Nhật là Arashi và Exile). Còn nếu tính cả thị trường Châu Á thì nhóm đã mang về cho SM khoảng gần 110 triệu USD và là nghệ sỹ Hàn Quốc có doanh thu cao nhất năm 2009 (đứng thứ hai là Bi-Rain khoảng 57 triệu USD, đứng thứ ba là Big Bang khoảng gần 20 triệu USD).

Năm 2010: Thành công tại Nhật Bản và tạm dừng hoạt động

Thành công tại Nhật

Đĩa đơn thứ 30 của TVXQ, "BREAK OUT!", chiếm ngôi vị quán quân trên Oricon với 256,000 bản bán được ngay trong tuần đầu tiên, phá vỡ kỉ lục của Elton John là nghệ sĩ nước ngoài có lượng tiêu thụ cao nhất trong 12 năm 4 tháng. Họ cũng lập kỉ lục, trở thành nghệ sĩ nước ngoài có lượng đĩa bán được trong tuần đầu tiên cao nhất tại Nhật.

Tháng 2 năm 2010, TVXQ đã được mời thể hiện ca khúc "With All My Heart -君が踊る、夏-", được sử dụng làm nhạc phim "君が踊る、夏 / Kimi ga Odoru, Natsu". Bộ phim sẽ ra mắt vào tháng 9 năm 2010.

Ngày 17 tháng 2 năm 2010, TVXQ phát hành album tiếng Nhật thứ 5, BEST SELECTION 2010, bao gồm các ca khúc xuất sắc nhất của nhóm trong thời gian hoạt động ởNhật. Album đã giành vị trí quán quân trên bảng xếp hạng album tuần Oricon với hơn 500 000 bản được tiêu thụ, đồng thời phá vỡ kỉ lục của Bon Jovi sau 12 năm 9 tháng. Đây là một thành công khẳng định mức độ nổi tiếng của nhóm tại Nhật Bản, thị trường âm nhạc lớn thứ 2 thế giới (sau Mĩ) và hơn nữa, từ trước đến nay cũng rất ít nghệ sĩ nước ngoài có được lượng tiêu thụ cao ở thị trường này.

Ngày 24 tháng 3 năm 2010, TVXQ chính thức phát hành đĩa đơn thứ 31 tiếng Nhật mới mang tên "Toki Wo Tomete (Please stop time)". Với gần 125000 bản bán được trong ngày đầu tiên, đĩa đơn đã giành vị trí No.1 trên bảng xếp hạng Oricon ngày. Cùng với đó, album "TVXQ NonStop-MIX vol.2", một album "non-stop mix" gồm 22 bài hát nổi tiếng của nhóm, đã chiếm vị trí số 2 trên bảng xếp hạng cùng ngày. "Toki wo Tomete" cũng đứng thứ 2 trên bảng xếp hạng Oricon tháng 3 với 209063 bản được tiêu thụ.

Sau khi dừng hoạt động

Vào ngày 3 tháng 4 năm 2010, Avex đã tuyên bố tạm ngừng hoạt động của TVXQ tại Nhật Bản dưới cái tên Tohoshinki và sẽ giúp đỡ mỗi thành viên đi theo con đường solo.

Năm 2010, chỉ trong 3 tháng đầu năm, với việc phát hành 2 đĩa đơn vào ngày 27 tháng 1 và 24 tháng 3, cùng với album Best Selection 2010 vào 17 tháng 2, album "TVXQ NonStop-MIX vol.2" vào 24 tháng 3 và DVD The One vào 17 tháng 3, nhóm đã lập thêm một kỷ lục mới khi tổng lượng đĩa bán ra đã xấp xỉ 1 300 000 bản (chỉ tính riêng trên bảng xếp hạng ORICON tại Nhật). Tháng 3 vừa qua, Hiệp hội ghi âm Nhật Bản đã chính thức trao tặng cho THSK đĩa Bạch kim cho hai đĩa đơn BREAK OUT! và Toki wo Tomete, còn album BEST SELECTTION 2010 với việc tiêu thụ hơn 510 000 trong vòng 1 tháng đã được chứng nhận Đĩa đôi bạch kim và đồng thời cũng đoạt No.1 Bảng xếp hạng toàn cầu.

Cuối tháng 5 năm 2010, Avex thông báo chính thức, 3 thành viên của TVXQ (Jaejoong, Yoochun and Junsu) sẽ tổ chức concert "Thanksgiving Live in Dome" tại Nhật Bản, dưới danh nghĩa một nhóm mới. Nhóm được lấy tên là JYJ, viết tắt của các chữ cái đầu tên của 3 thành viên, dưới sự quản lý của Rhythm Zone Japan.

JYJ phát hành DVD live đầu tiên,“THANKSGIVING LIVE IN DOME“ vào 8 tháng 9. Hơn 119,000 bản đã được tiêu thụ trong tuần đầu phát hành, đạt No.1 trên BXH Oricon DVD tuần. Mini-album đầu tiên 

The... được phát cùng ngày, cũng đồng thời dành vị trí No.1 trên BXH album Oricon tuần, với 139,708 bản.

Lần cuối cùng một nghệ sĩ đạt vị trí quán quân trên cả BXH album và DVD cùng lúc là 3 năm 10 tháng trước với album “Golden Best ~15th Anniversary~” và DVD “ZARD Le Portfolio 1991-2006″ của ZARD

Tháng 9 năm 2010, Avex tuyên bố đình chỉ mọi hoạt động của JYJ tại Nhật Bản do một số bất đồng giữa Avex và cơ quan môi giới của JYJ tại Hàn Quốc, C-JeS ENTERTAINMENT. Ngày 14 tháng 10 năm 2010 , JYJ phát hành album tiếng Anh toàn cầu The Beginning. Album được hợp tác với một số tên tuổi nổi tiếng như Kanye West, Malik Yusef. Họ cũng đã chính thức khởi động tour showcase toàn cầu của mình, được tổ chức tại Châu Á và Mỹ Tính đến ngày 01/01/2011 album đã tiêu thụ được 509.396 bản. Họ được bạn đọc của tờ báo danh tiếng Billbaord bầu chọn đứng thứ 5 các Album hay nhât năm cùng với các tên tuổi nổi tiếng trên thế giới.

Họ tiến hành các buổi showcase quảng bá Album The Beginning của mình trên toàn thế giới, mở đầu ở Seoul, Hong Kong, BangKok, Kuala Lampur Malaysia, Taipei, qua các thành phố lớn ở Mỹ: New York, Seattle, Sanfrancisco, Las Vegas, Los Angles, Hawaii ( Nhưng sau showcase ở Hawaii bị hủy do một số vấn đề về địa điểm) và kết thúc tại Shanghai, đạt được thành công ngoài mong đợi. Tuy gặp phải vấn đề về VISA, các buổi showcase ở Mỹ đều không thu tiền vé và các thành viên phải tự chi trả cho các buổi show case nhưng họ vẫn nhận được phản hồi tốt ở đất nước này.

Thành quả

Vì vẫn vướng vào những rắc rối của vụ kiện nên những hoạt động ở Nhật Bản của nhóm không được quảng bá nhiều, tuy nhiên khi Nhật Bản công bố tổng doanh thu mà các nghệ sỹ kiếm được trong năm 2010 (từ 28/12/2009 đến 22/12/2010), DBSK đứng thứ 2 chỉ xếp sau Arashi và xếp trên AKB48 với tổng doanh thu là 9,411,500,000 yen ($112 triệu). Trong đó Single album mang lại 777,200,000 yen; Album đem về 3,986,100,000 yen; DVD đêm về 4,604,500,000 yen; và Blu-Ray đem về 43,700,000 yen. DBSK đã khẳng định vị trí hàng đầu của mình ở JPOP và là một trong những nghệ sỹ hàng đầu của tập đoàn AVEX (cùng với những nghệ sỹ bản địa nổi tiếng của công ty như EXILE, Ayumi Hamasaki, Koda Kumi, AAA...) Như vậy chỉ tính riêng ở Nhật Bản, tổng số tiền mà DBSK kiếm được năm 2010 gần gấp đôi năm 2009 (khoảng 76$ triệu).

Năm 2011: Sự trở lại

Vào lúc 0h ngày 4/1/2011 (10h ngày 3/1/2011 theo giờ Việt Nam), trên kênh của SM Entertainment (YouTube), công ty SM đã tung ra video âm nhạc của ca khúc "Keep Your Head Down (Why)". Đây là ca khúc đánh dấu sự trở lại của cái tên DBSK tại K-Pop. Ca khúc được hát bởi 2 thành viên là U-know Yunho và Max Changmin. Phiên bản Nhật của "Keep Your Head Down" cũng thành công vang dội khi dành được danh hiệu đĩa bạch kim với 285.081 bản được tiêu thụ trong năm 2011 trở thành single thứ 8 của TVXQ đứng đầu bảng xếp hạng Oricon. Vào ngày 7/1/2011, 3 thành viên còn lại - Hero Jaejoong, Xiah Junsu, Micky Yoochun (xuất hiện với tên JYJ) cũng có 1 album khác là Their rooms "Our story".

Ngày 20/7 TVXQ (Yunho và ChangMin) phát hành single "SUPERSTAR" và trở thành single thứ 9 của họ có vị trí #1 trên Oricon với 75.687 bản được tiêu thụ trong ngày đầu tiên. Tháng 9/2011 JYJ đã phát hành album tiếng hàn "In Heaven" đánh dấu sự trở lại K-Pop của JYJ, ngay sau khi phát hành album cùng 2 MV là IN HEAVEN vào ngày 15/9/2011 và GET OUT...GOODBYE vào ngày 19/9/2011 nhóm đã dành được vị trí cao trên các bảng xếp hạng với 350.000 bản bán được trong tháng 9.

Cùng lúc đó Yunho và Changmin cũng phát hành và album tiếng Nhật "TONE". Và với 205.000 bản được tiêu thụ trong tuần đầu tiên album này đã giúp TVXQ phà vỡ kỉ lục tồn tại 11 năm bốn tháng của bảng xếp hạng Oricon,trở thành nam nghệ sĩ nước ngoài đầu tiên bán được hơn 200.000 bản album trong tuần đầu tiên. Đồng thời album cũng đạt đươc danh hiệu đĩa bạch kim không lâu sau đó với 278.057 album được bán trong tháng đầu tiên. Cũng trong năm 2011 TVXQ nhận thêm danh hiệu đĩa vàng cho 2 single "SUPERSTAR" và "WINTER ROSE" với lần lượt 188.314 và 152.825 bản được tiêu thụ.

 

Phong cách âm nhạc

 Phong cách của TVXQ là sự hoà trộn của nhiều thể loại âm nhạc như pop, R&Bdance và acapella

"Tae Jin Ah (ca sĩ Ballad huyền thoại tại Hàn Quốc) đã nhận định: “Sẽ không bao giờ có thể tìm được một nhóm nhạc nào khác hoàn hảo như DBSK”

Nhạc và lời ca khúc

Phần lớn các ca khúc của TVXQ đều được sáng tác bởi đội ngũ nhân viên. Đôi khi các thành viên trong nhóm cũng tự sáng tác. Trong album tiếng Hàn thứ 2, Rising Sun, Yoochun, Yunho và Junsu viết lời rap cho "Love After Love"; Yoochun cũng đồng thời soạn nhạc cho "Like weather...". Trong "O"-Jung.Ban.Hap. , album tiếng Hàn thứ 3, Yoochun viết lời rap tiếng Anh cho "Phantom Hwanyeong" và Junsu viết nhạc và lời "Nae Gyeote Sumsiur Su Ittdamyeon (White Lie)" (네 곁에 숨쉴 수 있다면). Album tiếng Hàn thứ 4,Mirotic, bao gồm đáng kể sáng tác của các thành viên: Jaejoong sáng tác "Saranga Uljima" (Dont Cry My Lover) (사랑아 울지마), Changmin viết lời tiếng Hàn cho "Love in the Ice", Yoochun sáng tác "Sarang Annyeong Sarang" (Love Bye Love) (사랑 안녕 사랑), và Junsu viết lời "Noeur.. Baraboda" (Picture of You) (노을..바라보다).

Trong Tour lưu diễn thứ 3 Mirotic, ca khúc "Checkmate" do thành viên Yunho sáng tác được trình diễn lần đầu tiên, cũng như ca khúc "Xiahtic" do thành viên Junsu sáng tác cũng nằm trong tour lưu diễn này.

Trong album tiếng Nhật thứ 3, T, Yoochun viết lời "Kiss Shita Mama, Sayonara" (Nhật: Kissしたまま、さよなら lit. As We Kiss, Goodbye) và cùng soạn nhạc với Jaejoong. Yoochun cũng sáng tác ca khúc solo của mình, "My Girlfriend" trong đĩa đơn thứ 2 của dự án TRICK, Runaway/My Girlfriend. Junsu soạn nhạc ca khúc solo "Rainy Night", cho đĩa đơn thứ 3 của dự án TRICK.

Jaejoong viết lời và đồng soạn nhạc "Wasurenaide" (Nhật: 忘れないで lit. Dont Forget) còn Micky sáng tác "Kiss the Baby Sky", cả hai đều là ca khúc hạng A trong đĩa đơn tiếng Nhật thứ 25 của nhóm, "Bolero/Kiss the Baby Sky/Wasurenaide". Những ca khúc này sau đó nằm trong album The Secret Code, cùng với "9095", ca khúc do Jaejoong sáng tác.

Jaejoong sáng tác và Yoochun viết rap cho ca khúc "Color - Melody and Harmony", ca khúc chủ đề của lễ kỉ niệm 35 năm mèo Kitty. Ca khúc này được 2 thành viên song ca và đưa vào đĩa đơn "Color - Melody and Harmony". Ca khúc "Shelter" trong đĩa đơn này cũng là một sáng tác chung của Jaejoong, Yoochun và Yunho. Yunho sáng tác và đơn ca "Checkmate" được phát hành trong đĩa đơn mới "Toki wo Tomete / Checkmate" của nhóm. Trong Album "Their Rooms", đa phần các bài hát đều do chính tay các thành viên soạn: 1. Mission (soạn nhạc: Junsu, viết lời: Zuno) 2. I.D.S (sáng tác: Jaejoong) 3. Nine (Sáng tác: Jaejoong) 4. Fallen Leaves (sáng tác: Junsu ) 5. Pierrot (Sáng tác: Jaejoong) 6. Nameless Song Part 1 (Sáng tác: Yoochun)

Jaejoong sáng tác ca khúc "In Heaven" và cũng là ca khúc chủ để cho Album Hàn Quốc đầu tiên dưới tên JYJ, cùng với thành viên Yoochun sáng tác ca khúc "Get Out". Ca khúc "The Boys Letter" do Jaejoong viết lời, "You're" do Junsu viết lời cũng nằm trong album này.

Jaejoong viết lời cho ca khúc "I'll Protect You"- ca khúc chủ để của bộ phim có anh góp mặt - Protect the Boss.

Giải thưởng và thành quả

TVXQ là nghệ sĩ sở hữu câu lạc bộ người hâm mộ có lượng thành viên đông đảo nhất Hàn Quốc. Cassiopeia FC chính thức của nhóm, được khẳng định có hơn 800,000 thành viên. Màu cổ vũ chính thức: đỏ ngọc (Pearl Red). Ngoài ra họ còn có FC ở Nhật là BigEast (có khoảng hơn 170,000 thành viên) và FC ở Bắc Mĩ là Aethiopeia. Bên cạnh có FC lớn nhất Hàn Quốc, nhóm cũng được ghi nhận với kỉ lục xuất hiện trên ảnh nhiều nhất thế giới. Từ khi ra mắt đến ngày 19 tháng 3 năm 2009, năm thành viên ước lượng được chụp khoảng 500 triệu lần trên tạp chí, bìa album, quảng cáo..., bao gồm cả ảnh cá nhân và ảnh cả nhóm. Đồng thời là nghệ sĩ nước ngoài thứ 3 sau huyền thoại Michael Jackson và ban nhạc nổi tiếng Backstreet Boy tổ chức concert 3 đêm liên tục tại Tokyo Dome trong tour lưu diễn Nhật Bản thứ 5 mang tên TVXQ Live Tour 2012. Doanh thu của họ mang về cho nhà SM năm 2012 lên đến 77.200.000$, chiếm 1 nửa toàn bộ doanh thu của nhà SM năm đó. Bắt đầu từ 27/4/2013, DBSK bắt đầu chuyến lưu diễn của mình qua 5 sân vận động mái vòm tại Nhật Bản và nhiều nước khác trên thế giới. Cũng trong tour diễn tại Nhật Bản lần này, DBSK đã lập nên kỉ lục mới khi đã thu hút được 850,000 fans tới xem concert của nhóm tổ chức tại đây. Vào 2 ngày 17/8 và 18/8/2013, DBSK tiếp tục lấp đầy khán giả ở những màn cuối cùng cho chuyến lưu diễn tại Nhật Bản của mình ở Nissan Stadium với sức chứa lên tới 72.300 người, và trở thành nhóm nhạc quốc tế đầu tiên tổ chức concert tại sân vận động lớn nhất đất nước hoa anh đào này, mang tên Tohoshin Live Tour 2013 ~TIME~.

Thành viên

Yun Ho
Tên: Jung YunHo (정윤호)
Nghệ danh: U-Know YunHo (유노윤호)
[Theo YunHo có nghĩa là "YunHo Knows You" (YunHo Biết Bạn),
thể hiện sự thông cảm, hiểu biết của YunHo dành cho 4 thành viên còn lại trong tư cách trưởng nhóm]
Vị trí trong nhóm: Giọng Nam Trầm, Trưởng Nhóm
Ngày sinh: 6 tháng Hai, 1986
Chiều cao: 186cm
Cân nặng: 61 kg
Nhóm máu: A
Gia đình: Cha, Mẹ và một em gái
Sở thích: Nhảy, khiêu vũ và sáng tác
Tôn giáo: Cơ Đốc Giáo
Tốt nghiệp: Đại học Myongji
Bạn bè: Sugar và Heechul (Super Junior)
Con số yêu thích: 5
Món ăn ưa thích: súp thịt heo (Hàn), súp thịt bò nướng (Nhật), mọi thứ với súp
Nghệ sĩ yêu thích: Jung JiHyun, Eugene (SES), HOT
Thể thao: Taekwondo
Màu yêu thích: Xanh lá
Tên cún cưng: Typhoon/Taephoong-TyphoonsPuppies-Hoki
 
 
Jae Joong
Tên: Kim JaeJoong (김재중)
Nghệ danh: Young Woong | HeroJaeHoong
[Nghệ danh này được anh chọn theo lời khuyên của một thầy bói. "Young Woong" theo tiếng Hàn có nghĩa là Anh Hùng
Vì vậy Hero trở thành tên gọi quen thuộc của JaeJoong với các Fan trong và ngoài nước]
Vị trí trong nhóm: Volca Chính
Ngày sinh: 26 tháng Một, 1986 (nhưng theo xác nhận của mẹ ruột, ngày sinh thực là 04 tháng Hai, 1986)
Chiều cao: 182cm
Cân nặng: 63 kg
Nhóm máu: O
Gia đình: Cha, Mẹ, em gái và em trai
Gia đình nuôi: Cha, Mẹ và 8 người chị
Sở thích: Nấu ăn, rèn luyện cơ thể và sáng tác
Tôn giáo: Cơ Đốc Giáo Tốt nghiệp: trường trung học, không có thông tin về trường Đại học
Bạn bè: Kim Hyun Joong (SS501), BoA, TOP (Bing Bang)
Con số yêu thích: 33333333333........ (vô tận)
Món ăn ưa thích: ---
Nghệ sĩ yêu thích: KangTa, Yoo Young Jin, Fany, WheeSung, Yumi, Yolanda Adams, HOT
Thể thao: Cầu lông
Màu yêu thích: Đen và Đỏ
Tên cún cưng: Vick/Bikeu
 
 
Yoo Chun
Tên: Park YooChun (박유천)
Nghệ danh: Micky YooChun
[Nghệ danh "Micky" viết theo tiếng Hán "秘器"có nghĩa là "Vũ Khí Bí Mật"
Tượng trưng cho tham vọng của YooChun, trở thành một vũ khí bí mật của ngành giải trí. Micky đồng thời cũng là tên tiếng Anh của YooChun]
Vị trí trong nhóm: Giọng Nam Trung-Trầm
Ngày sinh: 04 tháng Sáu, 1986
Chiều cao: 184cm
Cân nặng: 64 kg
Nhóm máu: O
Gia đình: Cha, Mẹ và em trai
Sở thích: Sáng tác và chơi Piano
Tôn giáo: Cơ Đốc Giáo
Tốt nghiệp: Đại học Kyunghee
Bạn bè: Kim Hyun Joong (SS501)
Con số yêu thích: ---
Món ăn ưa thích: Kimchi Jjigae của JaeJoong
Nghệ sĩ yêu thích: HOT, Brian McKnight
Thể thao: Bóng rổ
Màu yêu thích: ---
Tên cún cưng: Harang
 
 
Jun Su
Tên: Kim JunSu (김준수)
Nghệ danh: Xiah JunSu (시아준수)
[Tên Xiah có cách phát âm "ah-shee-ah” trong tiếng Hàn Quốc, tượng tự như ASIA – Châu Á,
thể hiện tham vọng của anh trở thành một trong những nghệ sĩ hàng đầu của làng giải trí Châu Á]
Vị trí trong nhóm: Giọng Nam Trung-Cao, Tâm trạng của nhóm
Ngày sinh: 15 tháng Mười Hai, 1986 (Trong khai sinh là 01 tháng Một, 1987)
Chiều cao: 183cm
Cân nặng: 64 kg
Nhóm máu: B
Gia đình: Cha, Mẹ và anh sinh đôi
Sở thích: Chơi game và bóngđá
Tôn giáo: Cơ Đốc Giáo
Tốt nghiệp: Đại học Myongji
Bạn bè: Junho (Twin) và Eunhyuk (Super Junior)
Món ăn ưa thích: xúc xích,các món gà, hầu như tất cả mọi thứ
Nghệ sĩ yêu thích: HOT, Kangta, NSYNC
Thể thao: Bóng đá
Màu yêu thích: Xanh và Tím
Tên cún cưng: Xiahki/Shaki/Shiaki
 
 
Chang Min
Tên: Shim ChangMin (심창민)
Nghệ danh: ChoiKang | MaxChangMin (최강창민)
[Nghệ danh này theo tiếng Hàn Quốc nghĩa là ChangMin "The Best"
Max một phiên bản dễ thương của Choikang, từ đó đã trở thành tên gọi được Fan trên toàn thế giới dành cho ChangMin]
Vị trí trong nhóm: Giọng Nam Cao, Em Út
Ngày sinh: 18 tháng Hai, 1988
Chiều cao: 189cm
Cân nặng: 61 kg
Nhóm máu: B
Gia đình: Cha, Mẹ và hai em gái
Sở thích: Chơi game và Ăn
Tôn giáo: Phật Giáo
Tốt nghiệp: Đại học Kyunghee
Bạn bè: Những người bạn thời trung học, KyunHyun (Super Junior)
Con số yêu thích: 2
Món ăn ưa thích: hầu như tất cả mọi thứ
Nghệ sĩ yêu thích: Brian Mcknight, Shin Hyesung, Kangta, Yolanda Adams, Han Ga In, HOT
Thể thao: Bóng chày hoặc bóng rổ
Màu yêu thích: Trắng
Tên cún cưng: Mangdong

Cre: wikipedia, kites.vn

Bình luận

CÁC NGHỆ SĨ KHÁC